🌠 Quai Đê Lấn Biển Là Gì
Vinpearl - Vinhomes Long Beach là dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ do tập đoàn Vingroup đầu tư và phát triển có quy mô lên đến 2.870 ha được quy hoạch đồng bộ, hiện đại tại vị trí chiến lược, đắc địa góp phần phát triển kinh tế khu vực.
Trên triền đê Bạch Long, phía ngoài kia là biển - Ảnh: Đức Hùng Đôi chỗ lại gặp dãy kè quai đê lấn biển, chắn sóng, ngăn dòng lũ cuốn mà hẳn bà con nơi đây đã phải đổ nhiều mồ hôi và công sức để chinh phục thiên nhiên, bảo vệ cánh đồng và mùa màng trong đê
Giới thiệu về biển Đồ Sơn ở Hải Phòng. Khi nhắc đến Đồ Sơn người ta nghĩ ngay đến một trong những khu du lịch nổi tiếng của miền Bắc. Nơi đây có nhiều bãi biển với phong cảnh tuyệt đẹp thu hút đông đảo khách du lịch đến đây hàng năm. Đồ Sơn là một bán
Quyển 1 - Chương 15: Vách Ma Giấu. Chín Danh trầm ngâm theo kiểu khó nghĩ, rồi ổng nhìn Hùng nói: "Chỗ mấy anh định đi, đúng là ngọc rết nhiều lắm, thực ra nó "nhìn" thì thấy gần đây thôi, nhưng vào được nói dễ không dễ nói khó không khó, quan trọng là bản lĩnh." Thông
Đọc đoạn 1. Nêu nguyên nhân và hậu quả của việc phá rừng ngập mặn. - Nguyên nhân: như chiến tranh, các quá trình quai đê lấn biển, làm đầm nuôi tôm,…một phần rừng ngập mặn đã mất đi. - Hậu quả: lá chắn bảo vệ đê biển không còn nữa, đê điều dễ bị xối lở
Các công cuộc quai đê, lấn biển của Doanh điền Nguyễn Công Trứ lập nên huyện Tiền Hải năm 1828 dưới triều vua Minh Mạng. Từ đó, đến nay công cuộc quai đê, lấn biển vẫn liên tục được hậu thế tiến hành như quai đê lấn biển Cồn Vành những năm 90 của thế kỷ trước.
Trong khi đó, người dân từ già tới trẻ đều thầm cảm ơn sự đi đầu của anh Vươn trong việc quai đê lấn biển, xông ra nơi sóng gió để bà con không phải lo chạy bão. Chưa nói đến tính xác thực của thông tin thì từ "người tốt, người xấu" không phải là từ dùng cho người phát ngôn đại diện cho cơ quan công quyền phát biểu về một người dân.
Vai trò chính của đê nhân tạo là ngăn ngập lụt, tuy nhiên, chúng cũng có thể là làm hẹp dòng chảy làm cho dòng nước chảy nhanh hơn và dâng cao hơn. Đê có thể được tìm thấy dọc theo bờ biển, nơi mà các cồn cát không đủ chắc hoặc dọc theo sông, hồ và các vùng đất lấn biển để bảo vệ phía trong bờ khi có các đợt nước dâng cao.
Xương quai hàm là gì? Xương quai hàm có cấu trúc rất đặc biệt, chúng được xem là "bộ khung đỡ" cho những bộ phận phần mềm, phần che phủ bên ngoài. Xương quai hàm sẽ quyết định cấu trúc tổng thể gương mặt và mỗi người sẽ có đặc điểm gương mặt khác nhau.
clLRdm. – Tỉnh Thái Bình đang thực hiện chủ trương mở rộng tuyến đê biển tại huyện Thái Thụy phục vụ phát triển công nghiệp và dịch vụ. Xung quanh chủ trương này, thời gian qua đã có nhiều ý kiến tham vấn, phản biện cũng như góp ý cho dự án. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin về vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã lược ghi ý kiến của lãnh đạo một số bộ, ngành, nhà khoa học và các đơn vị liên quan. Rừng ngập mặn ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Ông TRẦN HỒNG HÀ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nhất trí với chủ trương dịch chuyển rừng phòng hộ ra ngoài đê mới đắp Trong Thông báo số 115/TB-BTNMT ngày 6-12-2016 thông báo ý kiến kết luận của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Thái Bình về việc chuyển diện tích rừng phòng hộ tại 2 xã Thụy Xuân, Thụy Hải huyện Thái Thụy nêu rõ Về việc dịch chuyển 176,21ha rừng phòng hộ thuộc hai xã Thụy Xuân và Thụy Hải, huyện Thái Thụy ra ngoài đê mới đắp đê biển số 8 để nâng bãi triều phía trong đê phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bộ Tài nguyên và Môi trường nhất trí với chủ trương trên của tỉnh trên cơ sở phải bảo tồn nguyên vẹn diện tích, chất lượng, giá trị của rừng phòng hộ ven biển để đảm bảo hệ sinh thái của khu vực. Đề nghị tỉnh đưa phần diện tích này vào điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2016-2020 của tỉnh trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chỉ đạo cập nhật vào kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện làm căn cứ pháp lý để quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện dự án theo đúng quy định của pháp luật đất đai. Xây dựng kế hoạch dịch chuyển rừng phòng hộ cụ thể, đảm bảo đủ diện tích và chất lượng của rừng phòng hộ như hiện nay… Ông HÀ CÔNG TUẤN, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thống nhất chủ trương nhưng phải bổ sung phương án trồng rừng thay thế Tại công văn số 10349/BNN-TCLN ngày 7-12-2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Thứ trưởng Hà Công Tuấn ký gửi UBND tỉnh Thái Bình về việc chuyển mục đích rừng phòng hộ tại huyện Thái Thụy để phát triển kinh tế – xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nêu quan điểm Thống nhất chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng 149,14 ha rừng phòng hộ sang mục đích khác không phải lâm nghiệp để phát triển kinh tế xã hội như đề nghị của UBND tỉnh Thái Bình tại tờ trình. Tuy nhiên, theo Điều 29, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3-3-2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và quy định hiện hành thì hồ sơ còn thiếu các tài liệu Dự án đầu tư trên diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; báo cáo đánhgiá tác động môi trường việc chuyển mục đích sử dụng rừng; phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; phương án trồng rừng thay thế khu chuyển đổi mục đích sử dụng sang mục đích khác… Được biết, đến nay, UBND tỉnh Thái Bình đã và đang hoàn thiện các tài liệu trên. Ông NGUYỄN THẾ ĐỒNG, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Đa dạng sinh học sẽ suy giảm nhưng có thể phục hồi Phát biểu kết luận tại Hội thảo tham vấn tác động môi trường của dự án mở rộng tuyến đê biển, ông Nguyễn Thế Đồng nói Trong hội thảo thấy các chuyên gia tham dự đều ủng hộ chủ trương của tỉnh Thái Bình trong việc mở rộng diện tích đất nhằm phát triển công nghiệp, dịch vụ nhưng cần lưu ý phải cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học. Cần quán triệt các quy định về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là Chỉ thị 13-CT/TW ngày 12-1-2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Về mặt pháp lý như giải trình của UBND tỉnh Thái Bình, quy hoạch điều chỉnh tuyến đê biển của Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thái Bình triển khai theo quy hoạch mới hoàn toàn hợp pháp và phù hợp với chủ trương và UBND tỉnh đã có sự đồng ý của cơ quan chủ quản Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với dự án. Khi thực hiện việc nắn đê mới sẽ dẫn tới việc suy thoái của các diện tích rừng ngập mặn ở phía trong đê là điều tất yếu do đặc điểm sinh thái của rừng ngập mặn. Về mặt khoa học, nếu lấy 150 ha rừng ngập mặn ở khu vực này là rừng trồng sau năm 1990 thì trong giai đoạn nhất định đa dạng sinh học khu vực sẽ có sự suy giảm tuy nhiên sẽ phục hồi do đặc thù của khu vực Thái Thụy được bồi tụ, lấn biển và sinh thái thực vật tương đối đồng nhất… TS TÔ VĂN TRƯỜNG, Chuyên gia độc lập về tài nguyên nước và môi trường Tiếp nối công cuộc quai đê, lấn biển trong lịch sử Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình lập dự án đầu tư “Nâng bãi ổn định đê biển số 8 phát triển công nghiệp từ Km26+700 đến Km31+700 huyện Thái Thụy để kết hợp tạo mặt bằng phát triển công nghiệp và dịch vụ”. Mục tiêu dự án đắp đê mới, cách đê cũ khoảng 800 m, san lấp toàn bộ diện tích xen kẹt từ đê cũ đến đê mới để đảm bảo ổn định cho đê mới, kết hợp tạo mặt bằng phát triển công nghiệp-dịch vụ thu hút nhà đầu tư góp phần thúc đẩy khu phát triển khu kinh tế ven biển và thay đổi diện mạo, cảnh quan môi trường trong khu vực. Nhìn lại lịch sử, ở Việt Nam, hoạt động khai khẩn đất đai được bắt đầu từ thời đại phong kiến nhà Trần Trần Nhân Tông – 1248, đặc biệt là thời nhà Nguyễn, Nguyễn Công Trứ 1830 đã lấy địa bàn cấp huyện làm quy hoạch khai hoang và lấy thủy lợi làm căn cứ tổ chức quy hoạch ruộng đất. Thái Bình đất chật, người đông, việc làm đê lấn biển là xu thế phát triển của bài toán phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Thái Thụy được ông trời cho vùng cửa biển nơi đây là đất bồi và rừng ngập mặn do con người trồng ngày càng phát triển, lấn biển theo truyền thống của cụ Nguyễn Công Trứ thời xưa, để giải quyết vấn đề nan giải đất chật người đông. Khi con người tác động vào tự nhiên, không bao giờ được tất cả mà có được và mất bài toán trade off. Vấn đề đặt ra làm sao cho cái lợi là lớn nhất và cái hại là ít nhất. Về tổng thể chắc chắn việc xây dựng công trình đê biển ở Thái Thụy có ảnh hưởng đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học khu vực này. Tuy nhiên, khó để đánh giá hoặc đưa ra so sánh được mức độ ảnh hưởng, thiệt hại về đa dạng sinh học thiên nhiên và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội rất lớn hiện nay ở các xã, huyện ven biển trong đó có huyện Thái Thụy cũng như của tỉnh Thái Bình. Thực tế, nhiều bãi bồi phát triển dọc bờ biển từ Hải Phòng đến Thanh Hóa hiện nay khu vực phía trong bìa rừng rất nhiều nơi đưa vào khai thác phát triển thủy sản, xây dựng đê quai, phát triển các loại hình sinh thái, dịch vụ,…. Do vậy, khó tránh khỏi xu thế phát triển lấn biển, lập khu dân cư, khu kinh tế ở mỗi khu vực này… Thực tế việc chặt, phá rừng sẽ có ảnh hưởng đến đa dạng sinh học như báo cáo đã nêu, tuy vậy việc đánh giá đa dạng sinh học trong báo cáo chưa được làm rõ. Thực tế, quan sát khi ra hiện trường dự án khu vực bãi bồi phía Tây từ nhà máy đóng tàu Đại Dương đi ra dọc theo cửa sông Diêm Hộ thì có rất nhiều loài, loại cư trú vì trước đây khu vực này là hệ rừng ngập mặn phát triển tốt kết hợp sự lên xuống của triều ra vào vùng cửa sông đã tạo môi trường thuận lợi cho các loài, loại phát triển. Cho đến nay đây vẫn là khu vực cư trú của nhiều loại chim, cá tôm nhiều hơn so với khu vực phía dự án. Các công cuộc quai đê, lấn biển của Doanh điền Nguyễn Công Trứ lập nên huyện Tiền Hải năm 1828 dưới triều vua Minh Mạng. Từ đó, đến nay công cuộc quai đê, lấn biển vẫn liên tục được hậu thế tiến hành như quai đê lấn biển Cồn Vành những năm 90 của thế kỷ trước. Chính vì vậy, việc lấn làm đê biển 8 như là một việc tiếp nối chu trình mà cha ông để lại trên cơ sở quá trình phát triển mạnh mẽ của bãi bồi huyện Thái Thụy. Với những lợi thế sẵn có cùng thành tựu đạt được, tháng 2 năm 2011, Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương thành lập và bổ sung Khu kinh tế ven biển Thái Bình với diện tích 30,583 ha, trong đó giai đoạn I là 15,000 ha vào Quy hoạch tổng thể phát triển ven biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó giai đoạn 1 sẽ tập trung khai thác vùng bãi bồi ngập nước cho phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Tuy nhiên, để đảm bảo các khu vực được mở rộng an toàn trước các rủi ro do thiên tai từ biển, nhiệm vụ quai đê bảo vệ vùng lấn biển phải đi trước một bước. Tuyấn đê biển 8 là tuyến đê nối đê hữu sông Thái Bình ở phía Bắc và đê tả sông Trà Lý phía Nam tạo nên vòng khép kín bảo vệ một nửa phía Bắc huyện Thái Thụy. Tuyến đê này nằm giữa hai cửa sông là cửa Thái Bình và cửa Diêm Điền, phía trước đê là bãi bồi rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông này. Do lịch sử phát triển, trước đây tuyến đê đi song song với tuyến đường bờ, sau đó do nhu cầu quai đê – lấn biển, tuyến đê đã được điều chỉnh một đoạn từ K24 đến K26+700 để bảo vệ khu nuôi trồng thủy sản xã Thụy Xuân tạo nên một tuyến đê gấp khúc tại đây. Việc lấn biển một mặt điều chỉnh lại tuyến đê gấp khúc không trơn thuận, mặt khác mở rộng phạm vi bảo vệ và diện tích phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế ven biển của tỉnh. Dự án mở tuyến đê Thái Thụy-Thái Bình là cần thiết vì nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, trong qúa trình lập hồ sơ chuẩn bị đầu tư, thực thi dự án và hậu kiểm cần bổ sung làm rõ các giải pháp giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường sinh thái như đã phân tích ở trên. Ông ĐẶNG VĂN THÁI, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Lý giải vì sao cần lấy 320 ha Giải trình về một số nội dung phản biện tại hội nghị tham vấn ngày 25-2-2017, trong báo cáo số 31/BC-BQLDANN ngày 31-3-2017, ông Đặng Văn Thái khẳng định cơ sở pháp lý của việc quai đê vì tuyến đê biển số 8 đoạn từ Km26+700 đến Km31+700 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh tuyến và bổ sung vào hệ thống quy hoạch đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam tại văn bản số 1797/TTg-KTN ngày 6-11-2013. Về ý kiến tại sao cần lấy 320 ha, có thể giảm diện tích rừng ngập mặn cần lấy không, Ban Quản lý dự án giải thích Tuyến đê biển 8 là tuyến đê nối đê hữu sông Thái Bình ở phía Bắc và đê tả sông Trà Lý phía Nam tạo nên vòng khép kín bảo vệ một nửa phía Bắc huyện Thái Thụy. Tuyến đê này nằm giữa hai cửa sông là cửa Thái Bình và cửa Diêm Điền, phía trước đê là bãi bồi rộng lớn được bồi đắp bởi hai con sông này. Trước đây tuyến đê đi song song với tuyến đường bờ, sau đó do nhu cầu quai đê lấn biển, tuyến đê đã được điều chỉnh một đoạn từ km 24 đến km 26+700 để bảo vệ khu nuôi trồng thủy sản xã Thụy Xuân và mở rộng quỹ đất để phát triển kinh tế tuy nhiên lại tạo ra một tuyến đê gấp khúc tại đây về lâu dài sẽ gây ra điểm xung yếu cục bộ. Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh tuyến đê biển 8 để tạo một tuyến đê trơn thuận, không gấp khúc. Qua rà soát, khu vực dự án chỉ có rừng trồng, không có rừng tự nhiên như ý kiến đặt câu hỏi tại hội thảo tham vấn.
TN&MT - Gần 200 năm từ khi cụ Nguyễn Công Trứ chiêu mộ dân nghèo đắp đê, bắt đầu cuộc chiến lấn biển, khát vọng chinh phục bãi bồi ở vùng đất Kim Sơn Ninh Bình vẫn được tiếp nối bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả những phần máu thịt của những con người kiên cường ra quai đê, lấn biển… Lùi về lịch sử từ những năm 1827, nhận thấy việc khai khẩn những rẻo đất hoang màu mỡ, kết hợp quai đê lấn biển theo các cồn cát đã được pha trộn đất phù sa trải dài khắp vùng cửa các dòng sông lớn đổ ra biển là một cách xóa đói giảm nghèo khá nhanh... khi đang quai đê Tiền Hải nay thuộc Thái Bình, Doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ đã cho người sang Ninh Bình khảo sát thực địa, để chuẩn bị khẩn hoang sao cho xứng tầm với vùng đất giàu tiềm cửa biển ở Ninh Bình thời ấy vốn có tiếng là dữ dằn, gió to, sóng lớn. Cả một vùng bãi bồi, sình lầy, lau lách trải ra mênh mông, nên việc đi lại để quai đê đắp đường, đào sông gặp không ít khó khăn. Song nhờ tài tổ chức và vận dụng linh hoạt, sáng tạo với 63 vị chiêu mộ, thứ mộ, nhân đinh, sau hơn 1 năm, cụ Nguyễn Công Trứ đã hoàn tất việc quai đê, lấn biển Kim Sơn. Vùng bãi bồi Kim Sơn Kể từ đó đến nay, Kim Sơn trải qua thêm nhiều lần quai đê, lấn biển, chinh phục bãi bồi, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi như ắp đê Bình Minh BM1 năm 1959 - 1960; đắp đê BM2 năm 1981; đắp đê BM3 năm 2008 và năm 2020 đắp đê BM4... đã tăng diện tích tự nhiên của huyện Kim Sơn lên bốn lần. Toàn huyện giờ đã có hệ thống đê quai dài hàng chục km, kiên cố che chắn sóng gió trong những ngày mưa bão. Những con đê quai bằng rọ đá, bề mặt đổ bê-tông sừng sững như bức tường thành cũng chính là giao thông huyết mạch của các xã ven biển…Mồ hôi, nước mắt, nụ cười... chinh phục biển cảLịch sử đã ghi nhận các thế hệ người dân Kim Sơn tiên phong, gắn bó với hành trình quai đê lấn biển, với biết bao mồ hôi, công sức, máu và nước mắt, đấu tranh vật lộn, vượt qua những khắc nghiệt của gió, của nước lập nên những kì tích trước thiên nhiên. Những người quai đê, lấn biển, có người thành công, có người thất bại. Và những ai không gục ngã, kiên cường đi trọn được con đường đầy thử thách này đã viết nên trang sử lấn biển đầy tự hào từ chính nghị lực và mồ hôi, nước mắt mình...Theo lời kể của người dân nơi đây, đê Bình Minh 1 được hình thành từ trước những năm 1970, hồi ấy máy móc chưa có, tất cả công việc lấn biển đều làm bằng sức người. Cả trăm lao động như bức tường thành trước sóng gió, xúc từng xẻng đất, chuyền tay nhau đổ xuống biển. Cứ hùng hục sức người đấu với biển cả. Từng hòn đất được đào lên, chuyền tay nhau ném xuống. Nhưng ác nỗi lúc đắp thủy triều cạn, sau một đêm triều vào thì sáng sau con đê mất đến bảy phần. Để đắp được một mét đê dưới bãi biển, đổ mồ hôi sôi nước mắt gấp ba, bốn lần trên đồng vẫn chưa xong. Có khi gặp bão tố dồn dập, tất cả ngậm ngùi nhìn đoạn đê mới tạm nổi lại bị sóng quật vỡ tan. Cứ thế, họ vẫn làm, làm bằng tất cả nghị lực và ý chí, con đê Bình Minh 1 cũng hình thành với chiều dài 7, năm vùng ven biển Kim Sơn lại được thiên nhiên ưu đãi, ban phát hàng trăm ha đất phù sa lấn ra biển. Ông Đoàn Quốc Trung - Phó trưởng phòng Phòng chống thiên tai, Sở NN&PTNT Ninh Bình - người đã đồng hành với hành trình quai đê đầy gian khổ ở vùng bãi bồi Kim Sơn chia sẻ, để giữ của “trời cho”, công cuộc quai đê, lấn biển tiếp tục là cuộc đấu quyết liệt với “thần” biển. Sau đê Bình Minh 1; đê Bình Minh 2 được đắp với chiều dài theo quy hoạch hiện nay là 25,2km. Đê Bình Minh 2 khớp nối với đê Bình Minh 1 tạo thành một vùng bãi bồi rộng 2000 ha trù phú thuộc địa bàn ba xã bãi ngang Kim Hải, Kim ông và Kim Trung. Đê Bình Minh IV đang trong quá trình triển khai Nhớ lại hồi quai đê Bình Minh 3, ông Trung bồi hồi, khó khăn nhất khi quai đê lấn biển là địa nền, địa chất ở các tuyến đê rất yếu. “Hồi đắp đê Bình Minh 3, tôi cùng ông chủ đơn vị thi công đê thời ấy - thường xuyên ăn ngủ lại hiện trường. Có những hôm đã đắp đê quai, bơm nước đến lại bị biển động lớn, sóng đánh đê quai vỡ sạch, nước tràn hết vào trong hồ móng, hôm sau lại phải bơm lại từ đầu”, ông Trung ông Trung, thời điểm tiến hành đắp đê Bình Minh 3 đã thuận lợi hơn rất nhiều so với trước do đã áp dụng được những công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thi công. Nếu như trước đây đất đắp đê thường chuyển từ nơi khác đến, nhưng ở môi trường biển, nước thường xuyên lên xuống, có khi đất đổ xuống lại bị nước biển xâm nhập cuốn hết ra ngoài. Do vậy đơn vị thi công đã quyết định áp dụng “bơm đất tại chỗ để đắp đê”. Đê Bình Minh 3 hoàn thành đấu nối với đê Bình Minh 2 đã khoanh vùng đất lấn biển rộng hơn ha, nay là nơi nuôi trồng thủy hải sản của bà đê Bình Minh 4 vẫn trong quá trình triển khai, hàng chục km đê từ Bình Minh 1 ra Cồn Nổi đang kiên cường chặn đứng những ngọn sóng cuồn cuộn nối tiếp nhau mùa biển động. Bên trong, các đầm tôm, ngao bình yên chờ ngày thu hoạch. Dẫn chúng tôi đi tham quan bãi đầm lấn biển của mình, một người dân đang sản xuất tại vùng bãi bồi Kim Sơn rực ánh mắt nghị lực “Mang ý chí tiếp nối người xưa mở đất, người dân Kim Sơn năng động lợi dụng thủy triều để chuyển đổi đất bãi bồi, đất trồng cói trước đây kém hiệu quả sang nuôi tôm sú, nuôi tôm thẻ chân trắng, theo hình thức quảng canh, nuôi công nghiệp và nuôi theo dự án VietGAP”.“Đổi thay” đất bồi Việc người dân mở rộng nuôi trồng thủy sản ở vùng đê Bình Minh 1,2,3 và 4 đã khiến vùng đất này trở nên sôi động với hàng nghìn hộ làm nghề và tạo việc làm cho hàng chục nghìn người lao động từ dịch vụ nghề số liệu rà soát của UBND huyện Kim Sơn, đến nay, khu vực từ đê Bình Minh 2 đến Cồn Nổi có hàng nghìn hộ dân đang sử dụng khai thác và nuôi trồng thủy sản. Trong đó, khu vực từ đê Bình Minh 2 đến đê Bình Minh 3 có gần hộ với diện tích hơn khu vực từ đê Bình Minh 3 đến Cồn Nổi với diện tích gần với các tỉnh trong khu vực, nuôi trồng thủy sản ở Kim Sơn có nhiều thuận lợi bởi nơi đây giáp với vùng nội đồng nên có thể nuôi thả thủy sản dưới nhiều hình thức. Bên cạnh đó sự đầu tư lớn trong việc quai đê lấn biển đã giúp vùng nuôi trồng thủy sản của Kim Sơn có độ an toàn cao. Nhiều dự án đã và đang được triển khai ở vùng bãi bồi Kim Sơn Ông Đinh Việt Dũng, Bí thư huyện uỷ Kim Sơn cho hay, những năm gần đây, xác định kinh tế biển đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Nhiều dự án đã và đang triển khai như Dự án nâng cấp đê Bình Minh; dự án cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản, hải sản theo hướng công nghiệp vùng bãi bồi ven biển, dự án đường giao thông,… qua đó tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản vùng bãi bồi nói riêng…Sắp tới, tỉnh Ninh Bình cũng hoàn thiện quy hoạch chi tiết cho vùng kinh tế bãi bồi Kim Sơn. Đó sẽ là cơ sở tạo ra các hành lang phát triển bằng hạ tầng giao thông, tạo khu dân cư mới. Đồng thời, mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ… ở vùng bãi giờ về bãi bồi Kim Sơn, Ninh Bình chúng ta mới thấy cảm phục ý chí kiên cường lấn biển, mở đất đến cùng của bao thế hệ người nơi đây trước thiên nhiên khắc nghiệt và cả những “cơn sóng gió” trong lòng người. Đó là thế hệ con cháu những nông dân nghèo khổ từng theo cụ Nguyễn Công Trứ đi quai đê, lấn biển, mở mang đất mới. Và họ tiếp tục đổ mồ hôi, nước mắt theo bước chân tổ tiên mình...
Đã 200 năm từ lúc Nguyễn Công Trứ chiêu mộ dân nghèo đắp đê, bắt đầu cuộc lấn biển, những người nông dân phía cuối nguồn châu thổ ở Bắc bộ vẫn mang trọn khát vọng mở đất. Họ kiên cường ra quai đê, lấn biển, không chấp nhận bữa đói bữa no trong mảnh đất đồng bằng ngày càng chật hẹp. Và khát vọng chinh phục bãi bồi ấy bao giờ cũng đẫm mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả những phần máu thịt... - Kỳ 1 Cha, con và “cuộc chiến” lấn biển... Đứng trước bãi hoang trắng nước, ông Rễ bảo con rằng “Khoán 10, tư nhân được làm kinh tế rồi. Giờ nhà ta phải ra biển thoát nghèo thôi”. Và đó là cuộc trường chinh quai đê, lấn biển đẫm mồ hôi, nước mắt truyền từ đời cha đến đời con cháu ông Rễ. Lấn biển Tại sao cứ ì ạch đắp mãi rồi đê lại vỡ? ông Trong quyết định vượt sông sang Thái Bình xem người dân làm gì để giữ đê. Thấy cây bần, cây vẹt có tác dụng chắn sóng, ông nhổ mót cây nhỏ đem về trồng. Một chuyến, ông bị người dân sở tại bắt vào đồn công an. Chỉ khi bố ông đến giải thích, ông mới được thả. Cảm phục ý chí của ông, dân Thái Thụy còn tặng ông cả thuyền quả bần về ươm giống. Đó là kỷ niệm không phai trong hành trình lấn biển của cha con ông Trong bồi hồi kể nhà mình ở xã Nam Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng có tám nhân khẩu, ruộng một mẫu, nhưng đất nhiễm chua mặn năng suất thấp, làm không đủ ăn. Còn biển thì cá tôm quá nhiều. Ông Rễ bảo các con trai “Phải đắp đê, quây bãi lại để giữ tôm cá, đánh bắt lâu dài. Muốn có của ăn, cái mặc thì phải làm chủ, chứ trông vào con nước triều sẽ nghèo mãi”. Ngay hôm sau bố con ông Trong lên xã Nam Hưng xin nhận đầm. Trước ý tưởng táo bạo của họ và bãi bồi hoang vu còn mênh mông, chính quyền giao hẳn cho bố con ông 100 ha. Không thể làm một mình được, ông Rễ kêu gọi người em ruột Lương Văn Hùng góp vốn cùng tham gia. Họp gia đình, ông Rễ nói quyết tâm “Đã làm thì phải làm cho ra tấm ra món, đừng mang tiếng lũ gàn dở đem vàng ròng, thóc thịt ném ra biển”. “Lúc đó người làm cho gia đình tôi đông hàng trăm người. Họ chia thành tổ, thành nhóm đào đất, quai đê. Chẳng có máy móc gì. Cứ hùng hục sức người đấu với biển. Từng hòn đất được đào lên, chuyền tay nhau ném xuống. Nhưng ác nỗi lúc đắp thủy triều cạn, sau một đêm triều vào thì sáng sau con đê mất đến bảy phần. Để đắp được một mét đê dưới bãi biển, đổ mồ hôi sôi nước mắt gấp ba, bốn lần trên đồng vẫn chưa xong”- ông Trong xúc động nhớ. Ròng rã suốt từ năm 1988 sang năm 1989 con đê mới thành hình. Ngày nó nhô lên mặt nước thì tiền bạc, kho thóc trong nhà bố con ông Trong cạn kiệt đến nỗi phải vay mượn khắp nơi. Con đê cao gần 2m, mặt đê cỡ 1,5-2m và không biết bao nhiêu công sức, tiền của đã được đắp vào. Đắp xong đê, đứng nhìn cá tôm nhảy rào rào trong đầm, nhà ông Rễ mừng đến rơi nước mắt “Chuyến này chả mấy chốc trả hết nợ”. Nhưng trời, biển đâu dễ thua sức người. Vụ đầu chưa kịp thu hoạch thì cơn bão số 6 năm 1989 đã xóa sạch tất tật. Cá tôm lại trở về với biển. Con đê đất cũng hòa tan vào sóng khi cơn bão qua. “Đã cưỡi lên lưng hổ rồi, đâm lao thì phải theo lao, nếu không làm tiếp thì lấy đâu mấy tấn thóc, mấy chục chỉ vàng mà trả nợ, rồi lại mang tiếng là gàn dở, điên khùng nữa” - ông Trong nhớ lời bố Rễ khích lệ sau thất bại đầu tiên. Bão qua, cả nhà lại tiếp tục lao ra biển, thuê cả trăm người làm đê mới. Nhưng việc đắp đê biển sau trận bão càng khó hơn. Nền bãi yếu khiến con đê mong manh nhiều lần sụt lở, vỡ bục. Một số anh em đã nản lòng, bỏ cuộc! Hùng hục đắp đê, trồng rừng mãi đến những năm 1992-1993, UBND huyện quyết định giao 50ha đất bãi ven biển cho họ. Để làm hiệu quả, ông Rễ chia đều 50ha đầm cho người em 20ha và năm con cháu của mình để từng người có trách nhiệm và nếu có bão thì có thể mất đầm này còn đầm khác. Phóng to Ông Toảnh trên cánh đồng tôm được tạo nên bằng công sức mở đất biển từ đời cha mình - Ảnh Quốc Việt“Cuộc chiến” trước biển Công cuộc quai đê, trồng rừng, khai hoang, lấn biển là cuộc đấu quyết liệt với “thần” biển, và hầu như bất cứ người dân nào thời đầu vươn ra biển đều phải hứng chịu những thất bại đau thương. Và người em út Lương Văn Toảnh của ông Trong là người “dính đòn” đau nhất. Toảnh khi đó vừa tròn 20 tuổi cũng được ông Rễ chia phần 6 ha đầm bãi. Nhận đầm rồi nhưng làm thế nào để khuất phục biển? Đó là câu hỏi ngày đêm Toảnh trăn trở. Anh bỏ cả tháng trời để ăn bên biển, nằm bên đê, lắng nghe từng cơn sóng thủy triều, mải miết tìm bài giải. Không có kinh nghiệm nào để học theo, nhưng những ngày đêm mày mò nhặt con ốc, bắt con cua biển suốt từ khi 15 tuổi đã nuôi ý chí khát khao chinh phục biển trong Toảnh. Khi đã thuộc từng con nước, Toảnh quyết “Phải tiếp tục đắp đê kiên cố mới chắc ăn”. Anh kể suy nghĩ của mình “Đê đắp ổn rồi, mình lại phải tính sử dụng hiệu quả. Nếu chỉ đóng - mở cống để tôm cá tự nhiên vào rồi giữ lại thì chẳng ăn thua”. Năm 1994-1995, Toảnh khăn gói rời làng vào Khánh Hòa học hỏi việc nuôi trồng thủy sản... Về làng, Toảnh tiếp tục nuôi quảng canh nhưng “cải tiến” bằng cách thả thêm giống, tăng thức ăn cho tôm, cá. Cứ tích lũy dần đến năm 2003, anh quyết định đầu tư lớn để nuôi tôm công nghiệp, ươm tôm giống. Đầu tiên, anh bỏ gần 5 tỉ đồng để dựng cột, kéo đường điện ba pha từ làng ra bãi. Rồi nạo vét cải tạo 1 ha đầm theo tiêu chuẩn nuôi công nghiệp, xây thêm nhà xưởng, ô chuồng ươm giống tôm. Vừa làm, vừa tích lũy, đầu tư và đến năm 2005 toàn bộ diện tích 6ha đầm của anh đã thành vùng tôm công nghiệp. Lúc này số vốn cộng với khoản nợ đầu tư 6ha đầm tôm công nghiệp đã lên tới gần 20 tỉ đồng. Nhưng trận siêu bão số 6 năm 2005 khắc nghiệt đã biến 6ha đầm tôm công nghiệp quy mô nhất nhì huyện lúc bấy giờ thành bình địa. Toảnh cắn răng đến bật máu, nước mắt hòa cùng nước biển! “Nếu không làm lại thì không thể sống được, chỉ có chết mới hết nợ”. Ngay sau bão, Toảnh lại phải thế chấp nhà cửa, vay mượn để làm lại, bắt đầu vẫn từ con đê. Và nỗi đau trong cuộc tái thiết này lại ập đến khi hai người làm của anh là Nguyễn Văn Nhất và Nguyễn Văn Báu đã bỏ mạng vì bảo vệ con đê trước biển. Cuối năm 2006, cuộc tái thiết 6 ha đầm tôm công nghiệp hoàn thành. Rồi câu chuyện những ngày đầu năm khi Thủ tướng kết luận về vụ việc ở Tiên Lãng đã giúp anh em ông Trong, ông Toảnh - những người nông dân mấy mươi năm đi lấn biển mở đất có thêm niềm tin, để thề trước bàn thờ ông Rễ bố mình rằng “Chúng con sẽ lại tiếp tục đổ mồ hôi trên bãi bồi lấn biển”... __________ “Ngày xưa, tay tôi móc từng cục đất đắp đê lấn biển chỉ mong có cái bén lửa nồi cơm. Giờ tôi vẫn ra biển vì còn bao người trông cậy mình”. Trên bãi bồi Tiền Hải, Thái Bình có một người quai đê, lấn biển thành công đã được vinh danh... Kỳ tới Bàn tay tóe máu
quai đê lấn biển là gì